Thực hiện Nghị quyết 01 của Chính phủ, Nghị quyết 10-NQ/TU
ngày 10/01/2018 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa IX); Nghị quyết số
82/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của HĐND tỉnh về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp
chủ yếu năm 2018; Ngay từ đầu năm 2018, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các Sở,
ngành, địa phương nỗ lực, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ chỉ tiêu
kinh tế - xã hội; đồng thời tổ chức thực hiện các giải pháp điều hành cụ thể,
thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, cải
cách hành chính, tái cơ cấu kinh tế, đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, bảo đảm
an ninh trật tự và an toàn xã hội, kết quả đạt được chủ yếu như sau:
1. Lĩnh vực kinh tế:
- Kinh tế
tỉnh Đồng Nai (GRDP) năm
2018 tiếp tục tăng trưởng cao, đạt 8,1%,
GRDP bình quân đầu người khoảng 104 triệu đồng (tương đương 4.491 USD). Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục tăng dần tỷ
trọng các ngành dịch vụ có chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn, có lợi thế cạnh
tranh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9%
(xếp thứ 8 cả nước), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,16%; Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 4,42%; Tổng mức bán lẻ hàng hóa,
doanh thu dịch vụ đạt 162,5 ngàn tỷ đồng, tăng
11,5% so cùng kỳ.
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 50.109
tỷ đồng, đạt 93% dự toán giao. Công tác chi ngân sách được thực
hiện theo đúng quy định; tập trung chi cho đầu tư phát triển, chi an sinh xã hội,
phúc lợi xã hội.
- Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2018 đạt khoảng 90.000 tỷ đồng, đạt mục tiêu Nghị quyết, tăng 10% so cùng kỳ. UBND tỉnh
tập trung chỉ đạo thực hiện và giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách đảm bảo
tiến độ yêu cầu; dự kiến tỷ lệ giải
ngân năm 2018 đạt 95% (đến 31/01/2019).
- Thu hút đầu
tư trong nước đạt 28.493,1 tỷ đồng, đạt 284,9% kế họach năm, Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) đạt 1.915,5 triệu USD, đạt 191,5% so kế hoạch năm, tăng 4% so
cùng kỳ.
- Phát triển
doanh nghiệp: Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2018 đạt 3.520 doanh
nghiệp, tăng 4,5% so với cùng kỳ với tổng vốn đăng ký là 32.047 tỷ đồng; Năm
2018 có 298 doanh nghiệp giải thể với số vốn 2.311 tỷ đồng và 363 đơn vị trực
thuộc chấm dứt hoạt động, 477 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh.
Lũy kế đến nay,
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 33.654 DN đăng ký hoạt động với tổng số vốn đăng
ký khoảng 228.510 tỷ đồng.
- Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 18,6 tỷ USD, tăng 11,8% so cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu năm 2018 đạt 16 tỷ USD, tăng 10% so cùng kỳ. Như vậy, năm 2018
tỉnh Đồng Nai đạt mức xuất siêu khoảng 2,6 tỷ USD.
- Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới: lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 133/133 xã đạt chuẩn nông thôn mới,
chiếm tỷ lệ 100% tổng số xã xây dựng nông thôn mới; 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, chiếm tỷ lệ 12,7% tổng số xã xây dựng nông thôn mới; có 08/11 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông
thôn mới, chiếm 72,7% tổng số đơn vị cấp huyện, còn 03 đơn vị cấp huyện đang được
các Bộ, ngành thẩm định đạt chuẩn nông thôn mới.
2. Lĩnh vực văn hóa – xã hội:
Các lĩnh vực
văn hóa xã hội, chính sách, an sinh xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ,
trong năm 2018 giải quyết việc làm cho khoảng
87.302
lượt người, đạt 109,1% kế hoạch; hoàn thành và đưa
vào sử dụng 205 căn nhà ở xã hội, đạt 37% kế hoạch; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 84,5%; Tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 đảm bảo an toàn, đúng quy chế. Ngành Y tế tích cực
chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh; Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực
phẩm được chú trọng tăng cường.
Năm 2018, thực hiện đạt chỉ tiêu giảm 0,3% tỷ lệ hộ
nghèo (tương ứng khoảng 2.502 hộ nghèo), giảm 0,48% tỷ lệ hộ cận nghèo (tương ứng
khoảng 2.298 hộ cận nghèo) theo chuẩn nghèo quy định tại Nghị quyết
126/2014/NQ-HĐND ngày 26/9/2014 của HĐND tỉnh, đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra.
Công tác cải
cách hành chính, tư pháp, thanh tra, tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo;
phòng chống tham nhũng ngày càng đi vào nề nếp; Công tác quốc phòng an ninh bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội. Tỉnh đã hoàn thành chỉ tiêu giao quân, chọn và gọi công dân nhập
ngũ đạt chỉ tiêu ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã); diễn tập khu vực phòng thủ
huyện Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu thành công, an toàn.
3. Đánh giá chung:
3.1. Kết quả nổi bật:
- Kinh tế tỉnh
Đồng Nai năm 2018 tiếp tục tăng trưởng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của cả
nước (GDP cả nước năm 2018 đạt 7,08%).
Thu nhập bình quân đầu người tỉnh Đồng Nai
(khoảng 104 triệu đồng) cao hơn 1,7 lần so với thu nhập bình quân đầu người
cả nước (khoảng 60 triệu đồng, tương
đương 2.587 USD).
- Đồng Nai là
một trong 16 tỉnh thành có điều tiết ngân sách về Trung ương. Tuy năm 2018 thu
ngân sách chỉ đạt 93% dự toán giao nhưng Đồng Nai vẫn là một trong những địa
phương đứng đầu cả nước về số thu ngân sách.
- Đồng Nai là
một trong các địa phương dẫn đầu về phát triển KCN với 31 khu công nghiệp đang
họat động chiếm 10% KCN cả nước (cả nước
có 325 KCN), tỷ lệ lấp đầy trên 77% (trung
bình cả nước đạt 51%).
- Thu hút đầu
tư nước ngoài FDI năm 2018 đạt 1,915 tỷ USD
(xếp thứ 4 cả nước, sau Hà Nội, BRVT, Bình Dương).
- Tỉnh quan
tâm công tác hỗ trợ doanh nghiệp nên những năm qua số lượng doanh nghiệp đăng
ký thành lập mới ngày càng tăng (năm 2018
thành lập mới 3.520 DN, trong khi cả nước có 131.275 doanh nghiệp mới thành lập).
- Đồng Nai là
địa phương đầu tiên trên cả nước hoàn thành chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới
(133/133 xã).
- Giá trị sản xuất
nông, lâm, thủy sản tăng cao so với những năm trước đây (trong đó, tổng đàn gia súc gần 2,6 triệu con,
riêng đàn heo đạt 2,52 triệu con (cao nhất nước); tổng đàn gia cầm là 23,65 triệu
con, riêng gà đạt 22,3 triệu con (xếp thứ hai cả nước).
- Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tiếp
tục đạt mức tăng trưởng cao, từ năm 2015 đến nay tỉnh Đồng Nai liên tục xuất
siêu: Năm 2015 xuất siêu 1,3 tỷ USD, 2016 xuất siêu 2 tỷ USD, 2017 xuất siêu
2,2 tỷ USD, 2018 xuất siêu 2,6 tỷ USD (
năm 2018 cả nước xuất siêu 7,2 tỷ USD).
3.2. Hạn chế
Tình hình phát triển kinh tế vẫn còn nhiều
khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp tuy tăng trưởng nhưng
vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn định bởi năng lực quản trị yếu, công nghệ lạc
hậu, sử dụng lao động phổ thông là chủ yếu, khó đáp ứng yêu cầu hội nhập. Vấn đề
vệ sinh an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp và chưa có giải pháp xử lý hiệu quả,
triệt để. Việc thực hiện các thủ tục đầu tư các dự án trong nước, dự án PPP, BT
gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về các quy định theo Luật, văn bản hướng dẫn Luật
giữa Luật đầu tư và Luật chuyên ngành.
Việc triển khai thực hiện một số dự án
công trình trọng điểm đầu tư còn chậm, kéo dài. Việc triển khai thực hiện các
chương trình hỗ trợ nhà ở còn chậm. Kết quả thu ngân sách không đạt so dự toán,
trong đó lĩnh vực thu nội địa đạt thấp. Thực
hiện đầu tư các khu xử lý rác thải còn chậm. Những yếu kém trong quản lý hoạt động ở các quỹ tín dụng nhân dân
vừa qua đã làm phát sinh tiêu cực khó xử lý, gây bức xúc trong nhân dân. Công tác quản lý trật tự đất
đai, xây dựng có mặt chưa chặt chẽ, còn xảy ra tình trạng xây
dựng, phân lô bán nền trái phép, không phép. Tình trạng khai thác cát trái phép vẫn diễn biến phức tạp. Lĩnh vực du lịch tuy có chuyển biến
nhưng còn yếu cả về cơ sở hạ tầng và sản phẩm du lịch.
Tình hình dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực
phẩm trên địa bàn còn diễn biến phức tạp, tỷ lệ
mắc một số bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, tay chân miệng vẫn khá cao. Điều kiện vệ sinh môi trường, vệ sinh lao động còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng
đến sức khỏe nhân dân. Nhân lực ngành y tế chưa đáp ứng
đầy đủ về số lượng và chất lượng; hầu hết các cơ sở y tế từ tỉnh đến cơ sở đều thiếu bác sỹ; chất lượng khám chữa bệnh tuyến y tế cơ sở còn
hạn chế, chưa đồng đều; tốc độ phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ở các bệnh viện tuyến tỉnh còn chậm. Tình trạng nợ bảo hiểm ở các doanh nghiệp đến
nay vẫn chưa được xử lý dứt điểm.
Công tác đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục
tuy được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; tình trạng trường, lớp giáo dục mầm non còn thiếu so
với nhu cầu gửi trẻ, tình trạng sĩ số học sinh trên lớp vượt mức quy định ở cấp
tiểu học, trung học cơ sở. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của địa phương phát
triển chậm, chưa đảm bảo chất lượng đào tạo và chưa đáp ứng yêu cầu lao động.
Công tác đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục chưa thực sự phù hợp. Việc
huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân đầu tư cho phát triển giáo dục, đào
tạo, giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2015 - 2020 chưa nhiều.
Tình hình an ninh trật tự diễn biến phức tạp,
các đối tượng kích động người dân, công nhân tụ tập biểu tình (vào tháng 5,
tháng 6/2018) gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội an toàn xã hội và hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; mặc dù các ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt để
kéo giảm tai nạn giao thông. Tuy nhiên, tình hình tai nạn giao thông vẫn diễn
biến phức tạp, nhất là vào các tháng cuối năm.
Phòng THQH